Đang truy cập: 2
Trong ngày: 25
Trong tuần: 344
Lượt truy cập: 518033

Ngải Sơn lăng - Lăng vua Trần Hiến Tông

05-08-2017 11:02

      Ngải Sơn lăng hay còn gọi là An lăng là lăng vua Trần Hiến Tông. Vua Trần Hiến Tông là vua thứ 6 của nhà Trần, tên húy là Trần Vượng, con thứ của vua Trần Minh Tông, Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm Kỷ Mùi (1319), năm 10 tuổi được vua cha Trần Minh Tông truyền ngôi, ở ngôi 13 năm, mất ngày 11 tháng 6 năm Tân Tỵ (1341), thọ 23 tuổi. Vua lên ngôi khi còn trẻ tuổi và lại mất sớm nên việc điều khiển triều chính, dẹp loạn và giữ yên bờ cõi đều do Thái thượng hoàng Trần Minh Tông đảm nhiệm. Ông được sử sách ghi nhận là người có “tư chất tinh anh sáng suốt, vận nước thái bình, nhưng ở ngôi không được lâu, chưa thấy thi thố việc gì”. Ngày 16 tháng 8 năm 1344 được an táng vào An lăng.

      Về An lăng hiện cũng còn nhiều vấn đề chưa thống nhất, trong đó có vấn đề tên gọi và vị trí xây dựng của lăng. Các tài liệu ghi chép về hai vấn đề này có khá nhiều khác biệt, thậm chí bản thân sách Đại Việt sử ký toàn thư chép cũng không thống nhất. Ở phần khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của vua Trần Hiến Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua húy là Vượng, con thứ của Minh Tông, mẹ đích là Hiển Từ Tuyên Thánh Hoàng thái hậu, mẹ sinh là Minh Từ Hoàng Thái phi Lê Thị. Ở ngôi 13 năm, thọ 23 tuổi, băng chôn ở lăng Xương An33. Khi chép về ngày táng của vua Trần Hiến Tông, sách này lại chép “Giáp Thân năm thứ 4 (niên hiệu Thiệu Phong - 1344)… Mùa thu, tháng 8… ngày 16, táng Hiến Tông ở An lăng tại Kiến Xương34. Như vậy, Đại Việt sử ký toàn thư đã không thống nhất khi chép về tên gọi của lăng. Khi thì chép là Xương An, khi khác lại chép là An lăng.

      Về vị trí xây lăng, Đại Việt Sử ký toàn thư chép là ở Kiến Xương. Kiến Xương dưới thời Trần là một phủ nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình.

      Khi chép về việc nhà Trần cho chuyển thần vị của các lăng từ Tam Đường về An Sinh, Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục có đề cập đến địa danh Kiến Xương. Tuy nhiên, điều tra thực tế tại khu vực vốn là Phủ lộ Kiến Xương dưới thời Trần đã không tìm thấy dấu vết lăng tẩm nào của các vua Trần.

       Bia Trần triều bi ký không thấy nhắc đến lăng của vua Trần Hiến Tông, nhưng lại nhắc đến lăng của các vị vua sau là vua Trần Dụ Tông và vua Trần Nghệ Tông.

       Sách Đại Nam nhất thống chí thì viết: “Lăng Ngải Sơn: lăng Trần Hiến Tông, ở dưới núi xã An Sinh, người đá và voi đá, ngựa đá, hổ đá, dê đá, trâu đá nay vẫn còn”35.

      Năm Minh Mạng thứ 21 (1480), vua Minh Mạng cho dựng bia tại các lăng tẩm nhà Trần ở An Sinh, trong đó có lăng Ngải Sơn, bia đá hiện vẫn còn tại di tích, nội dung bia ghi: “明 命 弍 拾 弌 年 玖 月 初 陸 日 奉 陳 憲 宗 皇 帝 陵 勅 造”(Minh Mệnh nhị thập nhất niên, cửu nguyệt, lục nhật tạo Trần Hiến Tông hoàng đế lăng sắc chỉ tạo). Nghĩa là: Ngày mồng 6 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 21 (1840) phụng sắc tạo bia tại lăng vua Trần Hiến Tông). Bia và nội dung của bia được chép lại trong sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ. Tấm bia đá này đã bị vỡ một phần nhưng đã được phục nguyên, hiện đang được bảo quản và trưng bày trong khuôn viên của lăng.

      Sách Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ thì cho biết Ngải Sơn lăng ở xã Đốc Trại, tổng Mễ Sơn, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

      Như vậy, An lăng, Ngải Sơn lăng (lăng Ngải Sơn) là những tên gọi khác nhau của lăng vua Trần Hiến Tông. Về vị trí của lăng hiện có hai quan điểm, quan điểm thứ nhất cho rằng ban đầu lăng được xây dựng ở phủ Kiến Xương (Thái Bình), đến năm 1381 thì được chuyển về An Sinh [Nguyễn Du Chi, tr.169]; quan đểm thứ hai cho rằng ngay từ đầu An lăng đã được xây dựng ở An Sinh [Nguyễn Văn Anh (2011), tr 34-35, việc ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư  là sự nhầm lẫn. Cơ sở của quan điểm này là:

      Thứ nhất, từ năm 1320 các vua nhà Trần đều chọn An Sinh là nơi xây dựng lăng tẩm của mình, trên thực tế An lăng là lăng thứ hai được xây dựng ở An Sinh (1344), An lăng được xây dựng khi Thượng hoàng Trần Minh Tông đang nắm thực quyền, không có lý gì ông chọn An Sinh làm nơi xây dựng lăng tẩm của mình mà lại không chọn nơi đây để xây dựng lăng cho con.

      Thứ hai, Ngải Sơn lăng là lăng có quy mô rất lớn, những gì hiện còn cho thấy lăng có đường Thần đạo lớn, hai bên có tượng người và tượng thú đứng chầu. Đế bia còn lại cũng cho thấy lăng có những tấm bia lớn, đặc biệt các di vật ở đây đều khá tinh xảo, khác với các di vật được xây dựng ở giai đoạn sau như lăng Phụ Sơn và Nguyên lăng.

 Ảnh: Hiện vật trưng bày tại Ngải Sơn lăng

       Thứ ba, mặc dù Đại Việt sử ký toàn thư  có chép “rước thần tượng ở các lăng Giác Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương” nhưng đồng thời cũng cho biết là các Thần tượng này được “đưa về lăng lớn ở Yên Sinh”. Qua ghi chép này có thể thấy hai điều, thứ nhất là nhà Trần cho rước Thần tượng, tức là bài vị chứ không phải  mộ, thứ hai các Thần tượng này đều được thờ chung ở một nơi (lăng lớn), do vậy không thể xảy ra việc các vua đầu triều thì thờ chung trong khi vua Trần Hiến Tông lại được thờ phụng ở một lăng lớn và riêng biệt.

      Trên thực tế, thời điểm nhà Trần cho chuyển các lăng tẩm về An Sinh là giai đoạn nhà Trần đã bước vào khủng hoảng toàn diện, quân Chăm-pa thường xuyên đánh phá ra tận kinh đô Thăng Long, triều chính thì bị lũng đoạn bởi các phe phái, kinh tế khủng hoảng theo đà giảm phát. Tất cả các yếu tố đó khiến nhà Trần không còn đủ năng lực để tổ chức xây dựng các công trình có quy mô lớn. Và có lẽ, cũng vì thế khi nhà Trần chuyển Thần vị các lăng ở Tam Đường về An Sinh, nhà Trần chỉ đủ sức xây dựng một lăng lớn để thờ chung Thần vị của tất các các vua mới được chuyển về. Và cũng chính bởi thế, việc xây dựng một Ngải Sơn lăng to lớn trong bối cảnh của nhà Trần lúc này là hoàn toàn không thể.

      An lăng hay Ngải Sơn lăng hiện thuộc khu làng Trại Lốc, xã An Sinh, huyện Đông Triều (Quảng Ninh), diện mạo An lăng cụ thể như thế nào vẫn là một bí ẩn trong lòng đất. Theo mô tả của Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ thì lăng có quy mô to lớn, các dấu vết còn lại gồm: “Nền trong dài hai trượng, chín thước (9,57m); rộng 8 thước (2,64m); cao 1 trượng (3,30m), tường vây quanh bằng gạch, mỗi mặt dài 4 trượng 5 thước (14,85m), dày 3 thước (1m)”.

      Xung quanh khu lăng hiện còn lại rất nhiều di vật, trong đó đặc biệt phải kể đến là bộ tượng bằng đá, gồm tượng quan hầu, tượng thú và rùa. Bộ tượng này vốn được đặt dọc hai bên Thần đạo của lăng theo từng cặp đối xứng nhau, tượng quan hầu ở tư thế đứng chầu, tượng các loại thú đều được tạc ở dạng phủ phục. Bộ tượng đá ở An lăng không chỉ được đánh giá là một sưu tập quý của nghệ thuật điêu khắc thời Trần, mà điều quan trọng hơn nữa là, qua bộ tượng này chúng ta biết  được trong cấu trúc Thần đạo lăng tẩm thời Trần hai bên có tượng quan hầu và tượng thú đứng chầu.

 Bản vẽ mặt bằng An lăng trong sách “Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ”

      Ngoài các tượng thú, tại An lăng còn có hai tượng rùa đá của thời Trần, trong đó có một tượng rùa có kích thước rất lớn: dài 1,57m; rộng 0,94m, dày 0,34m, trên lưng rùa có một lỗ mộng lớn cho thấy rùa này cõng bia. Dựa trên kích thước của rùa có thể đoán định tấm bia đặt trên thân rùa cũng có kích thước lớn, chiều rộng của bia này tối thiểu là 0,94m. Với kích thước lớn như vậy thì đó phải là một bia rất quan trọng. Trong lăng tẩm thường có một tấm bia ghi chép công đức của người được táng trong lăng, bia đó gọi là bia “Thánh Đức thần công”. Ở An lăng có lẽ bia Thánh Đức thần công được đặt trên tượng rùa to.

      Năm 2002, lăng được xây lại như hình dáng hiện nay, việc tôn tạo không dựa trên những nghiên cứu đã khiến cho công trình hiện nay không phù hợp với diện mạo ban đầu của lăng.

 An lăng được xây lại năm 2002. nh: Nguyễn Văn Anh

 Tượng quan hầu ở An lăng. nh: Nguyễn Văn Anh
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 

logo qtv.vn/ logo dongtrieu.edu.vn// logo baoquangninh.com.vn logo qui.edu.vn

chn_banner_nguyn_van_sn