Đang truy cập: 3
Trong ngày: 28
Trong tuần: 345
Lượt truy cập: 518109

Những kết quả quan trọng trong việc khai quật khảo cổ học

31-10-2017 10:42

Những kết quả quan trọng trong việc khai quật khảo cổ học

DTLS nhà Trần tại Đông Triều

Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều là môt quần thể di tích lăng tẩm, chùa tháp và đền miếu phân bố trên một khu vực rộng lớn nay thuộc địa bàn các xã: Tràng An, An Sinh, Bình Khê và Thủy An thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, ngày 29/12/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2383/QĐ-TTg công nhận Khu di tích lịch sử Nhà Trần tại Đông Triều là di tích cấp Quốc gia đặc biệt. Trước đó, ngày 07/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 307/2013/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều. Năm 2014, Hội đồng nhân dân thị xã Đông Triều cũng đã thông qua Kế hoạch quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng trên địa bàn thị xã từ nay đến 2020, tầm nhìn 2030, trong đó nhấn mạnh công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo Khu di tích lịch sử văn hóa nhà Trần là trọng tâm cần được ưu tiên.

Để triển khai và thực hiện công tác quy hoạch chi tiết, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích nhà Trần thì việc nghiên cứu cấu trúc, quy mô, đánh giá giá trị là nhiệm vụ quan trọng cần đi trước một bước. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc quy hoạch, đề xuất phương án bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của các di tích. Trong bối cảnh các di tích trong Khu di tích lịch sử văn hóa nhà Trần tại Đông Triều đều ở dạng phế tích bị chôn vùi dưới lòng đất, để làm rõ diện mạo cũng như giá trị của di tích thì nghiên cứu khảo cổ là hướng tiếp cận quan trọng và hiệu quả. Từ năm 2016, được sự cho phép của Bộ VHTTDL, UBND tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan chức năng của tỉnh đã phối hợp với Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội đã tiến hành khai quật di tích lăng Tư Phúc; Phụ Sơn lăng (lăng vua Trần Dụ Tông); Ngải Sơn lăng (lăng vua Trần Hiến Tông) và di tích Hy lăng và chùa, quán Ngọc Thanh.

Xin giới thiệu tới độc giả những kết quả quan trọng  của quá trình khảo cổ các di tích nêu trên.

Phần 1:  KẾT QUẢ KHAI QUẬT LĂNG TƯ PHÚC

Năm 1308, nhà Trần cho xây dựng lăng Tư Phúc ở An Sinh và rước thần tượng các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông từ Long Hưng về đây để thờ phụng. Lăng Tư Phúc được Viện Khảo cổ học và Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh khai quật lần đầu năm 2009 với diện tích 300m2. Năm 2016, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Ban quản lý di tích tỉnh Quảng Ninh; Thị xã Đông Triều khai quật di tích Tư Phúc lần thứ hai với diện tích 600m2. Chúng tôi sử dụng lại hệ lưới trắc đạc cục bộ của Tư Phúc xây dựng năm 2009 làm hệ quy chiếu, với gốc tọa độ đặt tại mốc tọa độ gốc (0;0) nằm ở bó nền phía Nam thuộc cấp nền thứ nhất của phần đỉnh, cao độ 0 được dẫn từ mốc GPS hạng II được thiết lập phục vụ việc quy hoạch đường cao tốc Hà Nội – Hạ Long nằm trên khu vực cấp nền thứ nhất. Từ điểm mốc và trục chính tâm, lưới được phát triển ra các khu vực được hoạch định hố. Tại các vị trí mở hố, lưới được mở với mật độ điền đầy 3x3m. Các tọa độ được đề cập trong phần mô tả các di tích của lăng Tư Phúc dưới đây đều lấy theo hệ trục tọa độ này.

 Dấu vết kiến trúc thời Trần

- Dấu vết Thần Đạo và Bi đình.

Dấu vết Thần Đạo đã được phát hiện trong H1 năm 2009, tuy nhiên, tại H2, hố được mở nằm trên đường thẳng nối dấu vết Thần Đạo với Khu tẩm điện trung tâm lại không tìm thấy dấu vết của đường mà tìm thấy dấu vết của ba cụm đá và cuội xếp giống như kiểu gia cố móng trụ. Để làm rõ tính chất của các cụm đá và cuội đã được phát hiện trước đó, đồng thời tìm kiếm dấu vết Thần Đạo chúng tôi đã khai quật toàn bộ phạm vi được dự đoán là đường đi từ tọa độ X0 đến X39; Y-1 đến Y3. Tại khu vực có tọa độ X-28 đến X-38; Y -12 đến Y10 đã phát hiện dấu vết nền móng của một công trình kiến trúc, các dấu vết gồm: bó nền, sân bao quanh hai phía Đông, Tây và sáu dấu vết móng trụ. Bó nền được xếp thành nhiều cấp, rộng trung bình 102-120cm, thân bó nền được xếp bằng gạch, chân bó nền được xếp bằng cuội. Nền kiến trúc có kích thước dài Đông Tây 13,40m; rộng Bắc – Nam 8,70m. Trên mặt nền có 6 móng trụ trong đó có 3 móng trụ đã được phát hiện năm 2009. Cấu trúc bó nền và phân bố của các móng trụ cho phép suy đoán kiến trúc này có cấu trúc 5 gian, 6 hàng cột, mỗi hàng (vì) bốn cột. Dấu vết Thần Đạo kết nối thẳng vào gian giữa của kiến trúc này và chạy lên Khu tẩm điện trung tâm, phần Thần Đạo từ kiến trúc này đến Khu tẩm điện trung tâm dài 27,5m, rộng 2,0m-2,1m. Cấu trúc của Thần Đạo tại đây giống với đoạn đã phát hiện năm 2009, cụ thể, mặt đường không tạo thành bậc mà được tạo phẳng theo độ dốc của sườn núi, mặt chia thành các nhịp, phần phân cách của các nhịp được xếp bằng gạch nghiêng, mặt lát cuội. Việc ngắt nhịp của mặt đường không chỉ tạo cảm giác phân bậc mà việc phân nhịp với các hàng gạch nghiêng, nhằm gia cường kết cấu cho mặt đường. Như vậy với các phát hiện tại khu vực này cho thấy, Thần Đạo chạy từ chân núi lên Khu tẩm điện trung tâm, trên Thần Đạo có một kiến trúc, kiến trúc này là kiểu kiến trúc lầu, chức năng của nó có thể là nơi đặt bia “ Thánh Vũ Thần Công”, tấm bia ghi công đức của người được mai táng trong lăng nên có thể gọi là Bi đình. Từ Bi đình lên Khu tẩm điện trung tâm, bề rộng của Thần Đạo thu lại còn 2,0-2,1m, hẹp hơn 1,5m so với phần đường từ chân núi lên đến Bi đình.

- Dấu vết Chính tẩm và sân bao quanh nó.

Dấu vết Chính tẩm tìm thấy trong khu vực có tọa độ X13 đến X22; Y-5 đến Y7, dấu Chính tẩm được xác định dựa trên các dấu vết: dấu vết rãnh thoát nước và hàng gạch lát chân Chính tẩm ở các phía Nam và phía Tây; dấu vết rãnh thoát nước ở phía Đông và phía Bắc, các dấu vết này vây quanh khu vực có nền đá gốc cao hơn so với xung quanh trung bình 70-100cm. Từ các dấu vết này có thể xác lập được mặt bằng hình chữ nhật, dài Đông – Tây 11,26m; rộng Bắc – Nam 6,07m. Bao quanh Chính tẩm là sân, độ rộng của sân ở các mặt là khác nhau. Ở phía Bắc, chiều rộng từ bó nền phía Bắc của Chính tẩm đến bó nền phía Nam của kiến trúc phía Bắc là 310cm; ở phía Nam, độ rộng của sân từ bó nền phía Bắc của cổng phía Nam đến bó nền phía Nam của Chính tẩm là 340cm; khoảng rộng hai bên Đông Tây là 276cm.

- Dấu vết hành lang Đông – Tây

Dấu vết hành lang phía Đông gồm có bó nền phía Tây và bó nền phía Đông. Dấu vết bó nền phía Tây và đặc biệt là cống thoát nước dẫn từ sân đổ về phía Đông. Cống nước được tìm thấy tại vị trí có tọa độ X11 đến X16; Y12, cống được xếp bằng các khẩu ống hình trụ tròn và ngói ống, dài Đông Tây 480cm. Giới hạn của cống cho phép xác định độ rộng của Hành lang, theo đó mặt cắt hành lang phía Đông bao gồm cả bó nền và chân bó nền rộng 500cm, chân của bó nền phía Đông của hành lang này rộng 70cm; phần mặt nền rộng 430cm.

Hành lang phía Tây được nhận diện qua bó nền phía Tây của nó, bó nền này đã được thời sau sử dụng lại. Bó nền phía Đông của hành lang còn lại rất mờ nhạt ở vị trí tọa độ X25, Y-10 và dấu vết cống thoát nước đã phát hiện năm 2009. Qua đó xác định, hành lang phía Đông cách Chính tẩm 276cm về phía Đông, chiều rộng Đông Tây của hành lang phía Tây là 430cm.

- Dấu vết kiến trúc phía Bắc Chính tẩm

Dấu vết kiến trúc phía Bắc Chính tẩm được tìm thấy tại các vị trí từ X26-X31, Y 0 đến Y-12. Kiến trúc này đã được các giai đoạn sau cấu trúc lại tuy nhiên phần bó nền phía Bắc và một số chân tảng cho phép nhận diện mặt bằng. Theo đó kiến trúc phía Bắc có mặt bằng hình chữ nhật, dài Đông – Tây 27,10m; rộng Bắc –Nam 6,50m, kết nối với hành lang hai phía Đông và Tây ở hai đầu hồi. Như vậy, cũng giống như các lăng tẩm khác như Thái lăng, Phụ Sơn lăng, các kiến trúc cổng Nam, hành lang Đông Tây và kiến trúc phía Bắc kết nối liên hoàn bao quanh Chính tẩm.

 Các dấu vết kiến trúc thời Lê-Nguyễn.

Ngoài mặt bằng kiến trúc thời Lê - Nguyễn đã phát hiện ở phía Nam năm 2009, dấu vết kiến trúc thời Lê - Nguyễn còn được tìm thấy ở khu Chính tẩm và ở vị trí kiến trúc phía Bắc. Tại vị trí Chính tẩm, nền Chính tẩm của thời Trần được bố cục lại bằng cách, chiều Đông tây được thu hẹp lại ở mặt phía Đông, ở phía Bắc và phía Nam nền được kéo dài về hai phía, phủ đè lên phần sân bao quanh Chính tẩm thời Trần tạo thành một mặt bằng hình chữ nhật dài theo chiều Bắc Nam 14,8m, rộng Đông – Tây 9,25m. Tại vị trí của kiến trúc phía Bắc đã phát hiện một phần mặt bằng kiến trúc bao gồm bó nền và hệ thống chân tảng. Tổng cộng còn lại 15 chân tảng còn nằm nguyên tại vị trí, các chân tảng này thuộc về 5 hàng. Qua đó có thể đoán kiến trúc có mặt bằng hình chữ nhật, dài Đông Tây 22,8m; rộng Bắc Nam 5m, cấu trúc 9 gian, 10 hàng cột, mỗi hàng (vì) 4 cột, độ rộng trung bình các gian là 240cm; khoảng cách hai cột cái trong một hàng là 180cm; giữa cột cái và cột quân là 115-120cm.

Kiến trúc ở phía Nam, kiến trúc phía bắc và kiến trúc ở vị trí Chính tẩm kết nối với nhau tạo thành một mặt bằng hình chữ công (工), các phần còn lại vốn là vị trí của kiến trúc hành lang và hai bên sân bị san gạt thành sân. Như vậy, dưới thời Lê – Nguyễn, Khu tẩm điện trung tâm lăng Tư Phúc của thời Trần được xây dựng lại theo mặt bằng hình chữ công (工), trong đó kiến trúc phía Nam tương đương với phần Tiền đường, kiến trúc ở vị trí Chính tẩm là Thiêu hương và kiến trúc ở phía Bắc chính là Thượng điện.

 Một số di vật tiêu biểu

Bên cạnh các di tích, cuộc khai quật cũng tìm thấy một số loại hình di vật, trong đó chủ yếu là vật liệu kiến trúc, gốm sứ và đồ sành có niên đại thời Trần đến thời Nguyễn. Trong bộ sưu tập hiện vật thu được qua khai quật tại đây đáng chú ý là sưu tập trang trí kiến trúc thời Trần, gốm men thời Lê sơ và đồ sứ Trung Quốc.

Trang trí kiến trúc thời Trần tìm thấy tại đây có số lượng không nhiều, nhưng khá đầy đủ các loại hình của một bộ mái: Lá đề cân lớn, lá đề cân gắn trên ngói, lá đề lệch, đầu rồng, đầu phượng, uyên ương. Họa tiết trang trí trên lá đề cân và lá đề lệch gồm có họa tiết hình rồng và hình phượng; các tượng tròn có tượng đầu rồng, tượng đầu phượng và tượng uyên ương. Các trang trí được làm bằng khuôn nhưng được tu chỉnh rất cẩn thận. Những lá đề lệch ở đây có họa tiết gần gũi với lá đề cùng loại tìm thấy ở các lăng tẩm ở Tam Đường; tượng tròn là loại tượng đặc nguyên khối, họa tiết hoa văn được thể hiện bằng các nét chạm khắc giống như các tượng tròn tìm thấy ở Tam Đường hơn là cách làm tượng khối rỗng, họa tiết trang trí bằng khuôn như các di tích đồng đại khác. Việc các di vật tìm thấy tại Tư Phúc có nhiều nét tương đồng với di vật ở Tam Đường hơn so với các di tích đồng đại khác đã đặt ra câu hỏi: Liệu khi chuyển các lăng tẩm từ Long Hưng về An Sinh, nhà Trần có cho tháo dỡ và chuyển vật liệu của các kiến trúc còn lại của Long Hưng về An Sinh như cách mà Hồ Quý Ly đã làm khi xây dựng Tây Đô hay không? Và vì do chuyển vật liệu nên, để đồng bộ giữa vật liệu mới sản xuất và vật liệu được chuyển về, toàn bộ vật liệu sản xuất mới phải làm theo kiểu dáng hoa văn và quy cách của vật liệu cũ.

Đồ sứ cao cấp, đặc biệt là các dòng sứ cao cấp sản xuất tại Trung Quốc được tìm thấy trong Khu tẩm điện trung tâm và khu vực dưới chân núi, tiếp giáp với Thần Đạo. Đồ sứ tìm được chủ yếu là các dòng sứ men ngọc, men trắng với các loại hình phổ biến là: bát, đĩa, bình, lư… là sản phẩm của các lò Long Tuyền, Diệu Châu,…niên đại phổ biến thời Nam Tống thế kỷ XIII. Chúng ta biết, Tư Phúc được nhà Trần cho xây dựng vào năm 1381, tức là cuối thời thế kỷ XIV, trong khi đó tại đây lại tìm thấy rất nhiều đồ sứ cao cấp có niên đại tương đương với thời kỳ trị vì của vua Thái Tông và Thánh Tông, những chủ nhân của lăng tẩm này. Điều này cho thấy, có thể giống như các loại trang trí kiến trúc, những đồ sứ này cũng được chuyển về từ Tam Đường?.

Trong bộ sưu tập gốm sứ phát hiện tại Tư Phúc, đáng chú ý còn tìm thấy một số đồ gốm men cao cấp có niên đại đầu thế kỷ XV, đó là các loại bát, đĩa men trắng vẽ lam, trong đó có những mảnh của loại đĩa lớn, lòng sâu, thân cao, miệng bẻ ngang, đường kính miệng trung bình 40cm; giữa lòng trang trí hoa dây lá, thành trong, ngoài trang trí cánh sen kết hợp văn dây lá và các đường chỉ, đáy tô son nâu. Đây là những sản phẩm gốm men cao cấp của các lò ở Hải Dương. Việc tìm thấy các đồ gốm men trắng vẽ lam thế kỷ XV ở đây dường như phản ánh việc trông nom, thờ phụng lăng tẩm dưới thời Lê Sơ được trú trọng, cho thấy, chính quyền Lê Sơ không chỉ thể hiện trách nhiệm trông coi, thờ phụng lăng tẩm bằng chính sách với việc quy định các điều khoản trong luật mà còn thực thi nghiêm túc trên thực tế. 

 Những nhận thức cơ bản từ kết quả khai quật lăng Tư Phúc năm 2016

Tư Phúc là một trong những lăng tẩm vua Trần có quy mô lớn ở Đông Triều, Thần Đạo chạy dài từ chân núi, trên Thần Đạo có Bi đình. Tẩm điện trung tâm được xây dựng trên đỉnh núi gồm Sân ngự và hệ thống kiến trúc, trong đó kiến trúc Chính tẩm làm trung tâm ở vị trí cao nhất, vây quanh Chính tẩm là sân và các kiến trúc khác tạo thành nhiều lớp kiến trúc bao quanh kiến trúc Chính tẩm. Hai bên tả, hữu có các kiến trúc kiểu Tả vu, Hữu vu. Sự phân bố các kiến trúc trong Khu tẩm điện trung tâm thể hiện sự ảnh hưởng và chi phối của tư tưởng Phật giáo trong quy hoạch lăng Tư Phúc.

Các loại hình vật liệu kiến trúc, nhất là các trang trí kiến trúc có nhiều nét tương đồng với các loại hình trang trí kiến trúc phát hiện trong các lăng tẩm ở Long Hưng. Thêm vào đó, những đồ gốm men, đặc biệt là đồ sứ cao cấp tìm được tại đây có niên đại thế kỷ XIII dường như cho thấy khi chuyển Thần tượng các lăng từ Long Hưng về Yên Sinh nhà Trần cũng cho chuyển cả vật dụng, thậm chí cả vật liệu còn có thể dùng được tại Long Hưng về để xây dựng lăng Tư Phúc.

Các di tích, di vật tìm được cho thấy dưới thời Lê Trung hưng lăng Tư phúc đã được trùng tu và xây dựng lại trên quy mô lớn. Việc trùng tu, tôn tạo dưới thời Lê Trung Hưng đã cấu trúc lại mặt bằng toàn bộ cấu trúc của Khu tẩm điện trung tâm từ cấu trúc đa tầng hướng tâm với Chính tẩm nằm giữa thành một tổ hợp kiến trúc có mặt bằng hình chữ công (工) trong đó Chính tẩm được cải tạo nối dài với các kiến trúc ở hai phía trước sau tạo thành phần Thiêu hương, các sân bị lấp hoặc cải tạo, hành lang bị phá bỏ; kiến trúc cổng và một phần hành lang hai bên được cải tạo thành tòa Tiền điện; kiến trúc phía Bắc được cải tạo thành tòa Thượng điện. Mặc dù có cấu trúc hình chữ công nhưng Thiêu hương tức là vị trí Chính tẩm vẫn có cốt nền cao hơn so với các kiến trúc Tiền đường, Thượng điện. Do đó về mặt công năng, dưới thời Lê Trung hưng, Thiêu hương vẫn là trung tâm thờ tự Tư Phúc.

Mặc dù kiến trúc lăng Tư Phúc thời Lê Trung hưng có quy mô nhỏ hơn nhiều so với Khu tẩm điện trung tâm của Tư Phúc thời Trần nhưng so với các lăng tẩm khác các vua Trần tại Đông Triều thì Tư Phúc là lăng được trùng tu rất lớn. Những phát hiện này của khảo cổ cũng phù hợp với các ghi chép của sử liệu về việc trùng tu các lăng Tư Phúc dưới thời Lê Trung Hưng.

(Còn tiếp)

 

                                                                                        Bảo Thắng

                                                                     Nguồn: Trường ĐHKHXH&NV

 

 

 

 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 

logo qtv.vn/ logo dongtrieu.edu.vn// logo baoquangninh.com.vn logo qui.edu.vn

chn_banner_nguyn_van_sn