Đang truy cập: 2
Trong ngày: 25
Trong tuần: 344
Lượt truy cập: 518032

Những kết quả quan trọng trong việc khai quật khảo cổ học  DTLS nhà Trần tại Đông Triều

31-10-2017 10:57

Phần 2:  KẾT QUẢ KHAI QUẬT DI TÍCH PHỤ SƠN LĂNG

Phụ Sơn lăng là lăng vua Trần Dụ Tông, nay thuộc địa phận thôn Bãi Dài, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2012, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành và Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh khai quật thăm dò lần thứ nhất với diện tích 250m2. Kết quả khai quật thăm dò năm 2012 đã phát hiện dấu vết bó nền, móng trụ của một số công trình kiến trúc thuộc Khu tẩm điện trung tâm, dấu vết tường bao ở phía nam. Để tiếp tục làm rõ cấu trúc mặt bằng, quy mô và niên đại của di tích, năm 2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với Ủy ban Nhân dân thị xã Đông Triều và Ban quản lý di tích Quảng Ninh tiến hành khai quật di tích Phụ Sơn lăng lần thứ hai với 6 hố (được ký hiệu từ H6 đến H11), tổng diện tích khai quật 550m2. Kết quả khai quật cụ thể như sau:

Dấu vết Chính tẩm

Hố H6 và H7 được mở đối xứng nhau nối liên thông H1 và H2 năm 2012 nhằm tìm hiểu dấu vết bó nền và sân của vị trí được dự đoán là Chính tẩm. Tại đây các cấu trúc nền đã được làm xuất lộ tổng thể và xác định Chính tẩm có mặt bằng hình chữ nhật, dài Đông – Tây 940cm; rộng Bắc – Nam 670cm, chân nền được kè rộng ra mỗi cạnh 40cm, thân bó nền được xây dựng bằng kỹ thuật khung cột với bộ khung bằng đá, gạch xếp chèn và điền kín khoảng giữa các khung. Ở phía Nam có một bậc cấp dẫn từ sân lên Chính tẩm, bậc cấp gồm 7 bậc, rộng 150cm (bao gồm cả thành bậc), mặt các bậc rộng trung bình 22cm, cổ bậc cao 20cm; thành bậc hai bên đã bị vỡ, các mảnh vỡ còn lại xung quanh bậc cho thấy thành bậc trang trí tượng rồng. Trên mặt Chính tẩm, ngoài dấu vết 2 móng trụ phát hiện năm 2012 cũng đã phát hiện thêm 2 dấu vết móng trụ ở hai góc đối diện, như vậy tại Chính tẩm đã tìm thấy 4 móng trụ ở 4 góc cho phép khẳng định chắc chắn trên Chính tẩm có tồn tại kiến trúc. Dựa vào cấu trúc mặt bằng, vị trí các móng trụ còn lại có thể suy đoán kiến trúc Chính tẩm có kết cấu 3 gian 4 hàng cột, mỗi hàng 4 cột, gian giữa có khoảng bước gian rộng nhất và bằng 330-335cm; hai gian bên mỗi gian rộng 240cm-250cm; khoảng cách giữa hai cột cái trong một hàng là 330-335cm; khoảng cách giữa cột cái và cột quân trong một hàng là 97-110cm. Bao quanh Chính tẩm là sân, các mặt có chiều rộng khác nhau, mặt phía nam sân rộng 360-365cm; hai mặt phía Đông và Tây sân rộng 235-240cm và sân phía sau rộng khoảng 310cm.

 Dấu vết kiến trúc bao quanh Chính tẩm

Năm 2012 đã tìm thấy một dấu vết bó nền và 05 móng trụ thuộc hành lang phía Tây. Dựa vào dấu vết năm 2012 chúng tôi tiếp tục làm rõ mặt bằng kiến trúc hành lang phía Tây, tiếp tục tìm kiếm hành lang phía Đông và kiến trúc phía trước và sau của Chính tẩm. Kết quả:

- Cổng phía Nam:

Dấu vết cổng nằm trong phạm vi các hố H2  và H7. Cổng có mặt bằng cao hơn so với hành lang hai bên, bó nền được xây theo kỹ thuật khung cột, hệ khung đỡ bằng đá, gạch xếp chèn và điền kín khoảng giữa các khung. Kỹ thuật bó nền ở đây giống kỹ thuật bó nền của Chính tẩm. Ở chính giữa cả hai hai mặt trước và sau đều có bậc cấp. Bậc cấp ở phía trước (phía Nam) đã bị phá và nằm trên đường liên xóm hiện nay nên không có cơ hội làm rõ cấu trúc; bậc cấp phía sau thẳng hàng với bậc dẫn từ sân lên Chính tẩm. Dấu vết còn lại của bậc cấp gồm: thành bậc hai bên, trong đó thành phía Đông còn lại phần chân dài 145cm, rộng 19cm; thành phía tây còn nhưng nằm dưới gốc vải nên không được làm lộ toàn bộ nhưng dựa vào phần đã lộ, rộng 19cm có thể đoán, thành bậc phía Tây cũng có cấu trúc giống thành bậc phía Đông. Bậc còn lại 01 bậc, chiều rộng mặt bậc 20cm, chiều cao cổ bậc trung bình 20-22cm. Các dấu vết còn lại có thể suy đoán, bậc cấp này rộng (bao gồm cả thành bậc) 155cm, gồm 5 bậc. Trên mặt nền, cũng đã phát hiện 07 dấu vết móng trụ (trong đó có 03 móng trụ đã xuất lộ năm 2012). Dấu vết bó nền, móng trụ và sự phân bố của nó cho phép xác định mặt bằng cổng có hình chữ nhật, dài theo chiều Đông – Tây khoảng 860-870cm, rộng Bắc – Nam khoảng 435-450cm, kết cấu 3 gian, 4 hàng cột, mỗi hàng 2 cột, gian giữa lớn nhất với khoản rộng bước gian 330-335cm; hai gian bên bằng nhau và bằng 240-250cm, mỗi hàng 2 cột.

- Hành lang phía Tây:

Một số dấu vết hành lang phía Tây gồm 04 móng trụ và bó nền đã được phát hiện trong các hố H2 và H3 năm 2012. Dựa vào các dấu vết đã xuất lộ khu vực hành lang phía Tây đã được mở rộng, kết quả đã làm lộ tổng thể bó nền phía Tây của hành lang này; phần bắt góc ở phía Tây Nam và 09 móng trụ (trong đó có 05 móng trụ xuất lộ năm 2012), chiều rộng Đông – Tây của mặt nền là 490cm, rộng của chân bó nền phía Tây là 50-55cm. Các dấu vết còn lại và sự phân bố của nó cho phép xác định hành lang phía Tây có mặt bằng hình chữ L, chạy dài theo chiều Bắc Nam, đầu phía Nam bắt vuông về phía Đông để kết nối với cổng Nam và đầu phía Bắc kết nối trực tiếp với kiến trúc ở phía Bắc với cấu trúc 07 gian 08 hàng cột, mỗi hàng hai cột, khoảng cách gian lớn nhất là 330-335cm, gian này thẳng với các cột cái của kiến Chính tẩm, các gian còn lại có kích thước trung bình 290-300cm.

- Hành lang phía Đông

Dấu vết hành lang phía Đông nằm trong hố H7, đối xứng với hành lang phía Tây qua kiến trúc Chính tẩm. Các dấu vết xuất lộ gồm 04 móng trụ, các móng trụ này nằm đăng đối với các móng trụ tương ứng của hành lang phía Tây. Do vậy, mặc dù chưa xuất lộ hoàn toàn nhưng cũng có thể đoán, kiến trúc hành lang phía Đông có mặt bằng hình chữ L, chạy thẳng theo chiều Bắc Nam, đầu phía Nam bắt vuông về hướng Tây và kết nối với cổng Nam, đầu phía Bắc kết nối với đầu hồi phía Đông của kiến trúc phía sau Chính tẩm. Kết cấu hoàn toàn giống kết cấu của hành lang phía Tây.

- Kiến trúc phía Bắc

Dấu vết nằm ở góc Đông Bắc của hố H8, ở đầu phía Tây, nơi tiếp giáp với hành lang phía Tây cũng đã phát hiện dấu vết bó nền và móng trụ của kiến trúc này. Toàn bộ bó nền phía Tây và phần bắt góc phía Tây Bắc đã được làm xuất lộ, bó nền phía Tây chạy liền sát với bó nền phía Tây của hành lang phía Tây, nơi tiếp giáp giữa hai kiến trúc có dấu vết của bậc cấp. Ngoài dấu vết bó nền, tại đây cũng đã phát hiện 2 móng trụ, hai móng trụ này xếp thành hàng, nằm song song và cách bó nền phía Tây khoảng 60cm, móng trụ thứ hai cách bó nền phía Bắc cũng khoảng 60cm. Với các dấu vết còn lại có thể suy đoán, kiến trúc phía Bắc là kiến trúc lớn, kết cấu vì bốn cột, chạy hai đầu Đông Tây kết nối với kiến trúc hành lang ở hai phía và cổng phía Nam tạo thành một tổ hợp kiến trúc liên hoàn bao quanh lấy Chính tẩm.

- Kiến trúc Hữu vu

Cách hành lang phía Tây 7m về phía Tây, trong phạm vi hố H8 đã phát hiện một mặt bằng kiến trúc hình chữ nhật, chạy dài theo chiều Bắc – Nam 12,40m; rộng Đông – Tây 4,60m. Dấu vết còn lại gồm bó nền xây xếp bằng gạch, xung quanh là bó nền là ngói mũi sen đổ, ngoài ngói mũi sen tại đây còn phát hiện được ngói mũi lá. Do việc san gạt cải tạo đất để trồng cấy đã hót đi phần lớn lớp đất trên cùng vì vậy không tìm thấy dấu vết gia cố móng trụ, chỉ còn lại nền sét vàng được đắp và đầm chặt. Với vị trí và quy mô của kiến trúc có thể suy đoán kiến trúc này có cấu trúc ba gian, hai chái, sáu hàng cột, mỗi hàng hai cột. Bản vẽ quy chế mặt bằng lăng Phụ Sơn cũng cho thấy, hai bên tả, hữu vu của Khu tẩm điện trung tâm có nền kiến trúc. Theo ghi chép của sách này chúng ta có thể suy đoán rằng, đối ứng với kiến trúc Hữu vu qua Khu tẩm điện trung tâm, bên Tả vu cũng có một công trình kiến trúc có quy mô và cấu trúc tương tự.

- Dấu vết tường bao và cổng:

Trong hố H11, tại góc Tây Nam của hành lang phía Tây tìm thấy dấu vết tường bao từ góc hành lang phía Tây chạy về phía Tây, vây khu vực kiến trúc Hữu vu trong một không gian kín. Dấu vết tường 270cm được xếp bằng hai hàng cuội song song và cách nhau 110cm. Các dấu vết còn lại cho thấy tường được xây dựng bằng kỹ thuật trình tường, vỏ tường được xếp bằng cuội, lõi đầm chắt bằng đất sét chính là dấu vết của vỏ tường, lõi tường được đầm chèn bằng đất sét, lớp vỏ hàng phía. Cổng được mở trên thân tường, dấu vết cổng nằm cách bó nền hành lang phía Tây 230cm về phía Tây. Dấu vết còn lại là từ mặt bắc của tường bao có hàng gạch đơn vuông góc với tường, chạy về phía bắc 110cm, đây chính là bó nền của cổng dẫn từ sân Ngự phía trước vào khu vực Hữu vu. Cũng theo nghi chép của sách “ Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ” từ cổng Nam về hai phía Đông, Tây có tường bao bao quanh hai phía tả vu hữu vu, ngăn cách giữa sân Ngự với hai bên tả hữu, trên tường bao mở cửa kết nối và kiểm soát giữa sân Ngự và hai bên tả hữu. Như vậy, việc tìm thấy dấu vết tường bao và cổng phía hữu vu khẳng định độ tin cậy của các thông tin mà sách “ Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ” đã mô tả, điều đó cũng đồng nghĩa rằng, đối ứng với cổng và tường bao ở bên Hữu, bên Tả cũng có cấu trúc tương tự.

 Dầu vết tường bao ngoài

Dấu vết tường bao ngoài được tìm thấy trong hố H9, cách cổng Nam 103m về phía Nam, cách H5 6m về phía Đông và cách suối chảy trước khu lăng khoảng 5-10m tùy vào vị trí. H9 được mở nhằm tìm kiếm dấu vết cổng phía Nam trên tường bao ngoài, tuy nhiên dấu vết cổng đã bị phá hủy, chỉ còn lại một đoạn tường. Các dấu vết tường đã được phát hiện cộng với mô tả của sách “ “ Trần triều thánh tổ các xứ địa đồ”” có thể khẳng định, tại vị trí thẳng trục chính tâm của lăng trên tường bao ngoài chắc chắn vốn có một kiến trúc cổng, việc chưa tìm thấy dấu vết kiến trúc nền móng là do việc xây dựng các công trình hiện đại đã phá hủy nền móng của cổng.

 Di vật

Bên cạnh các di tích nêu trên, cuộc khai quật cũng đã tìm thấy một số loại hình di vật, trong đó chủ yếu là vật liệu kiến trúc. Các loại vật liệu kiến trúc phát hiện được trong các hố khai quật chủ yếu là gạch và ngói. Ngói gồm các loại ngói mũi sen lợp diềm mái và ngói mũi sen lợp thân mái; ngói lót. Các loại hình trang trí kiến trúc gồm: lá đề cân, lá đề lệch, đầu đao, tượng rồng, uyên ương, .v.v. Các đề tài trang trí trên lá đề cân ngoài hình tượng rồng vờn cầu lửa phổ biến ở nhiều di tích tại đây còn tìm thấy kiểu lá đề rồng chầu tháp, một đồ án trang trí hiếm gặp và đặc biệt là lá đề cân trang trí vũ nữ Apsara. Các loại hình vật liệu, đặc biệt là các cấu kiện trang trí tìm thấy ở đây cho thấy những bước chuyển biến mang tính đột phá trong ngành xây dựng đương thời. Các lá đề lệch truyền thống trước đó bao gồm phần lá đề và phần đế cong nặng gắn liền với nhau đã được thay thế bằng kỹ thuật khớp nối, thân lá đề làm tách biệt khỏi đế, ở phần đáy của thân làm thêm một mộng dài để khớp nối với phần đế, khiến cho việc sử dụng thuận lợi hơn. Các tượng tròn với khối đặc nặng nề đã được thay bằng các khối rỗng, giúp cho trọng lượng của các tượng tròn giảm chỉ còn băng 1/3 so với trước đây.

Một điểm đáng chú ý nữa là chúng tôi không tìm thấy bất cứ mảnh vật liệu kiến trúc của các thời đại muộn hơn thời Trần, điều này cho thấy dường như Phụ Sơn lăng không được trùng tu hoặc xây dựng lại vào các giai đoạn sau hoặc ít nhất là không diễn ra những cuộc trùng tu, xây dựng quy mô lớn với ở các giai đoạn sau.

            Những nhận thức cơ bản từ kết quả khai quật Phụ Sơn lăng năm 2016

- Kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ Phụ Sơn lăng năm 2016 đã làm rõ cấu trúc mặt bằng của Phụ Sơn lăng. Theo đó, lăng phân bố trên gần như toàn bộ khu vực xóm Mới ngày nay. Lăng có cấu trúc mặt bằng mô phỏng đô thành với tường hào bao quanh, Khu tẩm điện trung tâm lùi hẳn về phía sau. Khu tẩm điện trung tâm được cấu trúc thành ba cấp với Chính tẩm nằm giữa trên cấp nền cao nhất, các kiến trúc bao quanh và hướng vào Chính tẩm, hai bên Tả, Hữu có kiến trúc phụ trợ. Phía trước là sân Ngự.

Kiến trúc của Phụ Sơn lăng đều là kiến trúc có kết cấu khung cột bằng gỗ, mái lợp ngói mũi sen. Các trang trí trên mái kiến trúc gồm lá đề cân, lá đề lệch, tượng tròn hình đầu rồng. Các họa tiết trang trí là sự kết hợp hài hòa yếu tố tư tưởng Phật gáo và tính vương quyền. Đáng lưu ý ở đây tìm thấy khá nhiều lá đề cân trang trí hình vũ nữ Apsara, kiểu trang trí này hầu như không gặp ở các di tích lăng tẩm khác.

Cấu trúc mặt bằng và diễn biến địa tầng cho thấy, cấu trúc mặt bằng của Phụ Sơn lăng hầu như được duy trì từ khi xây dựng đến khi bị phá hủy. Việc không tìm thấy bất kỳ mảnh vật liệu kiến trúc của các thời đại sau thời Trần cho thấy, từ sau thời Trần hầu như không có cuộc trùng tu, tôn tạo lớn nào diễn ra tại Phụ Sơn lăng.

(Còn tiếp)

 

                                                                                         Bảo Thắng

                                                                           Nguồn : Trường ĐHKHXH&NV

 

 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 

logo qtv.vn/ logo dongtrieu.edu.vn// logo baoquangninh.com.vn logo qui.edu.vn

chn_banner_nguyn_van_sn